Cơ sở tính toán
Ngày đầu kỳ kinh cuối là 0 tuần 0 ngày và ngày 1 của chu kỳ. Theo giả định chu kỳ đều 28 ngày, ngày dự sinh luôn là kỳ kinh cuối + 280 ngày. Độ dài chu kỳ nhập vào không thay đổi ngày này, tuổi thai hay tam cá nguyệt.
Ngày đầu kỳ kinh cuối được tính là 0 tuần 0 ngày. Độ dài chu kỳ chỉ dùng cho mô hình gần đúng về rụng trứng và khoảng dễ thụ thai.
Công cụ này chỉ tính ngày theo quy ước chu kỳ 28 ngày. Kỳ kinh cuối phải nằm trong khoảng từ hôm nay đến 294 ngày (42 tuần) trước. Giá trị sau 40 tuần vẫn chỉ là chênh lệch ngày, không xác nhận mang thai, rụng trứng, thời điểm chuyển dạ hay sức khỏe. Hãy theo đánh giá lâm sàng nếu ngày nằm ngoài phạm vi hoặc đã được bác sĩ xác định.
Nhập ngày đầu kỳ kinh cuối từ hôm nay đến 294 ngày (42 tuần) trước và độ dài chu kỳ là số nguyên từ 20 đến 45 ngày.
Tiến độ là thời gian theo lịch từ kỳ kinh cuối đến mốc ước tính 280 ngày. Nó không mô tả sức khỏe hay sự phát triển của thai nhi.
Ngày đầu kỳ kinh cuối là 0 tuần 0 ngày và ngày 1 của chu kỳ. Theo giả định chu kỳ đều 28 ngày, ngày dự sinh luôn là kỳ kinh cuối + 280 ngày. Độ dài chu kỳ nhập vào không thay đổi ngày này, tuổi thai hay tam cá nguyệt.
Mô hình lịch này tính ngày đầu kỳ kinh là ngày 1 và đặt ngày (độ dài chu kỳ - 14) làm mốc, hay kỳ kinh cuối + (độ dài chu kỳ - 15) ngày. Chu kỳ 28 ngày cho ngày 14, tức +13 ngày; chu kỳ 30 ngày cho ngày 16, tức +15 ngày. Khoảng tham khảo kéo dài từ năm ngày trước đến một ngày sau.
Tam cá nguyệt thứ nhất từ 0 tuần 0 ngày đến 13 tuần 6 ngày (ngày 0-97), thứ hai từ 14 tuần 0 ngày đến 27 tuần 6 ngày (ngày 98-195), và thứ ba bắt đầu ở 28 tuần 0 ngày (ngày 196). Không có ngày kết thúc cố định ở đây; ngày dự sinh không phải ngày cuối cùng có thể của thai kỳ.
Ngày rụng trứng và khoảng dễ thụ thai chỉ là mô hình lịch. Chúng không phải biện pháp tránh thai và không xác nhận rụng trứng hay mang thai. Hãy theo đánh giá lâm sàng nếu chu kỳ không đều, không rõ kỳ kinh cuối, có IVF hoặc bác sĩ đã xác định tuổi thai.